Kinh tế nhà nước đổi mới, dẫn dắt và hội nhập
Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế Nhà nước. Đây được xem là Nghị quyết chiến lược tạo nền tảng cho phát triển Kinh tế nhà nước theo hướng đổi mới, dẫn dắt và hội nhập, với các mục tiêu đặt ra đến năm 2030 và 2045 cho doanh nghiệp nhà ngước (DNNN), TCTD Nhà nước; Nguồn lực quốc gia và Quản trị của DNNN.
Kinh tế nhà nước được trao cho rất nhiều nguồn lực xã hội, tuy vậy, hiệu quả hoạt động và vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước chưa tương xứng với kỳ vọng nguồn lực đang nắm giữ. Mặc dù các DNNN luôn phải đảm bảo trách nhiệm xã hội rất lớn khi đối phó với các thất bại của thị trường và đảm bảo lợi ích chung của người dân, nhưng đánh giá toàn diện thì hiệu quả kinh doanh và năng suất lao động của DNNN thấp, chưa tạo được sự lan tỏa mạnh mẽ đến khu vực kinh tế tư nhân, vai trò dẫn dắt còn rất hạn chế, chưa rõ nét. Như vậy, để tháo gỡ rào cản, điểm nghẽn để kinh tế nhà nước đảm trách được vai trò chủ đạo (không nhất thiết kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong mọi lĩnh vực) không chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh đơn thuần, mà cùng Nhà nước kiến tạo, phát triển, có trách nhiệm dẫn dắt, tạo đột phá trong những ngành, lĩnh vực then chốt của đất nước.
Do vậy, kinh tế nhà nước tiếp tục cải cách và hoàn thiện chể chế, chia sẻ rủi ro công bằng là yếu tố then chốt. Đây là điều kiện tiên quyết, chuyển nhận thức từ quản lý như đơn vị hành chính sang quản trị tài sản quốc gia; từ quản lý theo hướng xin - cho sang quản lý theo danh mục đầu tư chiến lược, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, lấy hiệu quả làm thước đo. Vì vậy, kinh tế nhà nước cần có sự thay đổi về ba nội dung cơ bản: (i) Luật hóa; trách nhiệm giải trình…; (ii) Tổ chức thực thi (cơ cấu lại triệt để các DNNN, áp dụng quản trị công ty theo thông lệ quốc tế; (iii) Thực hiện cơ chế giám sát hiện đại (theo hướng cảnh báo chiến lược, trên cơ sở thiết lập nền tảng dữ liệu số quốc gia về tài sản công giữa các cơ quan có liên quan (Bộ Tài chính; Ngân hàng Nhà nước; các bộ/ ngành có liên quan đến nguồn lực công, tải sản công và các địa phương)…). Tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, quyết định niềm tin của các nhà đầu tư.
Tiếp đến là nâng cao hiệu quả quản trị, kinh tế nhà nước được quản lý các tài sản công được giao theo hướng định danh, số hóa và định giá theo cơ chế thị trường trên cơ sở xây dựng một bảng cân đối tài sản quốc gia thống nhất về vốn góp, đất đai, hạ tầng, tài nguyên…
Cuối cùng phải thực hiện theo cơ chế thị trường, mọi doanh nghiệp đều thực sự bình đẳng trước pháp luật, xóa bỏ mọi đặc quyền đặc lợi. Tất cả các doanh nghiệp đều tuân thủ 1 hệ quy tắc về thuế, đầu tư, đấu thầu, đất đai, môi trường và trách nhiệm xã hội. Kinh tế nhà nước tập trung vào các lĩnh vực mà khu vực tư nhân chưa sẵn sàng hoặc không đủ điều kiện tham gia (như công nghệ lõi, dữ liệu lớn, công nghiệp bán dẫn, năng lượng tái tạo, hạ tầng số, hạ tầng chiến lược, các ngành kinh tế xanh và tuần hoàn…), hướng trọng tâm vào đẩy mạnh đổi mới sáng tạo/chuyển đổi số, đầu tư hạ tầng chiến lược, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng.
Ngân hàng trong việc góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế nhà nước
Ngân hàng vốn là huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động với thể chế ngân hàng hai cấp là quản lý nhà nước và kinh doanh tiền tệ - ngân hàng, hệ thống ngân hàng Việt Nam giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với ổn định vĩ mô nói chung cũng như đối với kinh tế nhà nước nói riêng. Điều này càng trở nên quan trọng trong môi trường kinh tế trong và ngoài nước có nhiều biến động khó lường. Về cơ bản, vai trò của ngành Ngân hàng trong việc góp phần giải quyết các vấn đề nổi cộm của kinh tế nhà nước trong thời gian tới thể hiện ở các vấn đề.
Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), việc cân bằng trong thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô (tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và tạo công ăn việc làm) là rất khó khăn trong thực tế. Để góp phần thực hiện mục tiêu này, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách kinh tế vĩ mô khác góp phần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Việc ổn định kinh tế vĩ mô (đảm bảo giá trị VND và kiểm soát lạm phát) là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho các hoạt động kinh tế - xã hội được ổn định, mặt khác trở nên cấp thiết trong bối cảnh kinh tế Việt Nam có mức độ hội nhập cao và chịu tác động mạnh từ biến động quốc tế, rủi ro địa chính trị và sự dịch chuyển dòng vốn toàn cầu. Trong giai đoạn 2025 - 2030, NHNN xác định trọng tâm điều hành chính sách tiền tệ là hoàn thiện khuôn khổ theo chuẩn mực quốc tế, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, tăng cường an ninh tài chính - tiền tệ, nâng cao sức chống chịu của hệ thống ngân hàng và phát huy vai trò các công cụ thị trường.
Bên cạnh chính sách tiền tệ, thì Chính sách tín dụng điều hành theo hướng an toàn, hiệu quả, hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực then chốt (chế biến, chế tạo, sản xuất, xuất khẩu...), dự án trọng điểm quốc gia, hạn chế tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, thúc đẩy phát triển tín dụng xanh nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và hỗ trợ tăng trưởng bền vững, khuyến khích các doanh nghiệp phát hành các công cụ tài chính bền vững như trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững, cổ phiếu của các doanh nghiệp thực hiện ESG.
Truyền thông rộng rãi tới các tổ chức tín dụng “Sổ tay hướng dẫn hệ thống quản lý rủi ro môi trường - xã hội” do Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tài chính quốc tế (IFC) soạn thảo dựa trên thông lệ quốc tế; Sớm có bộ tiêu chí phân loại minh bạch để xác định các ngành nghề hoặc công nghệ được coi là thân thiện môi trường và đối tượng thụ hưởng, từ đó xác định cụ thể chính sách ưu đãi và hỗ trợ, cơ chế phân cấp thẩm quyền phù hợp nhằm tạo thuận lợi cho NHTM trong triển khai.
Để bảo đảm an toàn hệ thống, thì vai trò quản lý, điều tiết hệ thống của NHNN rất quan trọng, trong đó có việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch, hoàn thiện khung chuẩn mực an toàn vốn và quản trị rủi ro theo chuẩn mực Basel III. Tăng tính chủ động và trách nhiệm giải trình kịp thời. Chuẩn hóa dữ liệu vĩ mô và hoạt động thống kê theo chuẩn mực quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng phân tích, dự báo và hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách hiệu quả hơn. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong phân tích - dự báo, nâng cao hiệu quả cảnh báo sớm rủi ro, hiện đại hóa hạ tầng thanh toán, bổ sung dữ liệu từ các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, các công ty cho vay ngang hàng (P2P Lending), dữ liệu Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia để hỗ trợ tổ chức tín dụng đánh giá chính xác hơn năng lực tài chính của khách hàng.
Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 cho phép áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong lĩnh vực ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế (Basel, IOSCO, IFRS). Việt Nam đã thành lập Trung tâm tài chính quốc tế với nhiều sản phẩm tài chính mới hoạt động tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng để kết nối các sàn giao dịch trong nước với quốc tế, hướng tới xây dựng hệ sinh thái tài chính toàn diện…
Còn đối với các tổ chức tín dụng, Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị xác định các NHTMNN có vai trò then chốt, trách nhiệm lớn trong ổn định hệ thống, điều tiết thị trường tiền tệ, cung ứng vốn chủ lực, đi đầu về quy mô, năng lực quản trị, công nghệ với nhiệm vụ phấn đấu có ít nhất 3 NHTM nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản; các NHTMNN đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, có khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống ngân hàng. Để nhanh chóng thể hiện tốt vai trò này, các NHTMNN cần tập trung vào 3 vấn đề trọng tâm. Trước tiên cần nâng cao năng lực tài chính, hiện nay hệ số an toàn vốn của nhóm NHTMNN thấp hơn nhóm ngân hàng tư nhân và thấp hơn nhiều ngân hàng trong khu vực theo chuẩn mực Basel II, trong khi yêu cầu về chuẩn mực Basel và cạnh tranh quốc tế ngày càng cao. Điều kiện tiên quyết là các NHTMNN cần được tiếp tục tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn nội bộ và nguồn vốn bên ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động. Nghị quyết 79-NQ/TW đã cho phép DNNN và NHTMNN được sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa và thoái vốn để tăng vốn điều lệ thay vì nộp ngân sách. Quy định này rất quan trọng khi gỡ khó cho nhóm ngân hàng này. Mặt khác, nếu Quốc hội, Chính phủ... mở rộng quy định cho phép nhóm ngân hàng này được trích lợi nhuận giữ lại chưa chia, thặng dư vốn... để tăng vốn điều lệ thì khả năng tăng vốn điều lệ sẽ nhanh chóng hơn.
Tiếp đến là về quản trị, để vươn tầm khu vực và thế giới, các DNNN không chỉ lớn về quy mô vốn, tài sản, mà phải mạnh về công nghệ, quản trị và thương hiệu. Cho đến nay, tất cả các tổ chức tín dụng ở Việt Nam đều là công ty đại chúng nên đã tuân thủ các chuẩn mực quản trị công ty theo tiêu chuẩn OECD được pháp điển hóa trong Luật Doanh nghiệp và Luật Các tổ chức tín dụng cũng như trong điều lệ. Tuy vậy, việc liên tục hoàn thiện các quy định này cũng như tổ chức triển khai phù hợp với tình hình thực tiễn từng thời kỳ luôn là nhiệm vụ thường trực, đặc biệt là nhân lực, mô hình cơ quan đại diện chủ sở hữu, các quy định quản lý nội bộ (quy chế lương - thưởng, quy chế quản lý tài sản, cơ chế đánh giá hiệu quả DNNN, thí điểm cơ chế đặc thù về thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm giám đốc/tổng giám đốc tại một số DNNN, NHTMNN …).
Cuối cùng là về công nghệ, đầu tư vào hạ tầng số là bắt buộc để thực hiện hệ sinh thái kinh tế số, xã hội số, ngân hàng số… trong thời gian tới. Điều quan trọng nhất là phải bảo đảm an toàn, an ninh hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng, bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền lợi của người dân. Ngoài vấn đề tài chính và công nghệ, các ngân hàng rất cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao, đủ năng lực làm chủ công nghệ mới. Đặc biệt ưu tiên các cơ chế đãi ngộ đối với những người có năng lực trong chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.








