Trả lời:
Virus viêm gan D (HDV) chỉ có thể xuất hiện trên cơ thể người đã nhiễm virus viêm gan B (HBV). Đồng nhiễm HBV - HDV được xem là thể viêm gan virus mạn, có xu hướng tiến triển nặng hơn so với chỉ nhiễm HBV đơn thuần. Nếu không được phát hiện và theo dõi kịp thời, người bệnh có nguy cơ cao tiến triển xơ gan sớm, suy gan hoặc ung thư gan.
Theo khuyến cáo, người mắc HBV mạn tính nên xét nghiệm phát hiện HDV ít nhất một lần, nhất là khi có men gan tăng kéo dài không rõ nguyên nhân, tổn thương gan tiến triển nhanh... Xét nghiệm giúp phát hiện sớm các trường hợp đồng nhiễm, ngay khi chưa biểu hiện triệu chứng rõ rệt.
Người bệnh thực hiện xét nghiệm máu để phát hiện virus viêm gan D. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Hiện, chưa có khuyến cáo bắt buộc phụ nữ mang thai phải làm xét nghiệm tầm soát HDV. Tuy nhiên, thai phụ nhiễm HBV mạn như bạn nên tầm soát HDV.
Ngoài cân nhắc xét nghiệm HDV, thai phụ mắc HBV mạn tính cần được thực hiện đầy đủ các xét nghiệm quan trọng trong thai kỳ như men gan, tải lượng virus HBV và các chỉ số đánh giá chức năng gan. Các xét nghiệm giúp bác sĩ xác định mức độ hoạt động của virus và nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con. Trong một số trường hợp có tải lượng HBV cao, thai phụ có thể được điều trị dự phòng bằng thuốc kháng virus để giảm nguy cơ lây nhiễm cho bé.
Viêm gan virus D không phải bệnh di truyền, đường lây truyền tương tự HBV, trong đó có đường lây từ mẹ sang con. Trên thực tế, phần lớn phụ nữ nhiễm HBV vẫn có thể mang thai và sinh con an toàn nếu được theo dõi và dự phòng đúng cách. Trẻ sinh ra từ mẹ có viêm gan virus B cần được tiêm kháng huyết thanh và vaccine đầy đủ ngay sau sinh nhằm giảm nguy cơ lây truyền.
Bạn nên trao đổi trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa Tiêu hóa hoặc bác sĩ Sản khoa đang theo dõi thai kỳ để được chỉ định xét nghiệm phù hợp với tình trạng cụ thể.
Khoa Tiêu hóa - Gan mật - Tụy
Phòng khám Đa khoa Tâm Anh Cầu Giấy





















