
Một hộ kinh doanh tại chợ Bình Tây, TP.HCM - Ảnh: HỮU HẠNH
Thông tin trên được Thủ tướng đưa ra tại phiên thảo luận tổ về sửa đổi các luật thuế ngày 21-4.
Thủ tướng cũng nhấn mạnh việc kịp thời sửa đổi các luật về thuế (gồm Luật Thuế VAT, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập cá nhân) nhằm giúp hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua những khó khăn, vướng mắc phát sinh trước tác động của biến động giá xăng dầu thời gian qua.
Sẽ có ngay nghị định và thông tư hướng dẫn
Vì vậy, dù các luật về thuế trên mới được Quốc hội ban hành cuối năm 2025 nhưng yêu cầu sửa đổi là đòi hỏi cấp bách, cho thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ và Quốc hội. Theo đó, hướng sửa đổi là nâng ngưỡng chịu thuế, như báo cáo của Bộ Tài chính là sẽ nâng mức này với hộ kinh doanh là 1 tỉ đồng/năm, tức là dưới mức thu nhập này sẽ không chịu thuế.
Theo Thủ tướng, việc nâng ngưỡng chịu thuế vừa để giải quyết khó khăn cho hộ kinh doanh nhưng cũng vừa phải tạo thuận lợi, công bằng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc này cũng khuyến khích hộ cá nhân chuyển đổi lên doanh nghiệp vừa và nhỏ nên cũng sẽ điều chỉnh ngưỡng chịu thuế của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
"Chính phủ cũng yêu cầu trình dự thảo nghị định đi kèm với dự thảo luật song do thời gian gấp quá, hiện Bộ Tài chính đang chuẩn bị gấp rút để đảm bảo khi Quốc hội thông qua sẽ có ngay dự thảo nghị định và thông tư hướng dẫn" - Thủ tướng nói thêm.
Phát biểu tại tổ, nhiều đại biểu đồng tình về việc nâng ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong đó, đại biểu Nguyễn Hữu Nghĩa (Tổng Kiểm toán nhà nước) cho rằng việc hỗ trợ này là động lực, nguồn lực để nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số ngay trong năm 2026 và những năm tới.
Tuy nhiên, hiện trong tờ trình của Chính phủ đề xuất sửa đổi theo hướng không quy định cụ thể ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ, cá nhân kinh doanh tại luật và giao Chính phủ quy định nhưng lại chưa có con số cụ thể. Vì vậy ông đề nghị Chính phủ bổ sung rõ nội dung này để đánh giá tác động cụ thể khi thực hiện thay đổi ngưỡng chịu thuế.
Cùng đó, đại biểu Nguyễn Đại Thắng - Phó chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội - cho rằng việc nâng ngưỡng chịu thuế lên trên mức 500 triệu đồng/năm sẽ góp phần giảm gánh nặng thuế, nhất là trong bối cảnh chi phí sinh hoạt, đầu vào gia tăng, tạo điều kiện khuyến khích chuyển đổi từ hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp. Từ đó nâng cao tính minh bạch, hiệu quả của nền kinh tế.
Tuy nhiên, ông Thắng đề nghị Chính phủ quy định cụ thể về mức trần với doanh thu miễn thuế doanh nghiệp với doanh nghiệp quy mô nhỏ và làm rõ cơ sở xác định ngưỡng doanh thu, cơ chế điều chỉnh trong trường hợp biến động kinh tế lớn. Đồng thời cần xây dựng giải pháp chặt chẽ để hạn chế tình trạng lợi dụng chính sách để chia nhỏ doanh thu, trốn tránh nghĩa vụ thuế, đảm bảo công bằng.
Cần quy định rõ tiêu chí điều chỉnh
Đồng tình với việc giao cho Chính phủ quyết ngưỡng doanh thu, song đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng) cho rằng Chính phủ cần quy định rõ tiêu chí xác định doanh thu chịu thuế.
Trong đó có yếu tố thời điểm, cơ chế kiểm soát ngay trong dự thảo luật để tránh nguy cơ cố tình chia nhỏ doanh thu, chia tách hoạt động kinh doanh, giữ quy mô "hộ nhỏ" để tránh nghĩa vụ thuế. Việc này cũng để người dân biết được ranh giới ai phải nộp thuế, ai không phải nộp thuế.
Ông Sơn chỉ ra thực tiễn cho thấy khu vực hộ kinh doanh rất lớn, khoảng 6,036 triệu hộ tính đến hết tháng 7-2025. Trong đó hơn 1,9 triệu hộ có đăng ký, riêng bảy tháng đầu năm 2025 có gần 536.200 hộ thành lập mới. Ngành thuế đang đặt trọng tâm năm 2026 là thu hẹp khoảng trống tuân thủ pháp luật thuế đối với hộ kinh doanh cá thể và thương mại điện tử.
hư vậy, nếu thiết kế không chặt thì một mặt nói hỗ trợ tăng trưởng nhưng mặt khác lại có thể khuyến khích phi chính thức hóa nền kinh tế, đi ngược yêu cầu minh bạch và mở rộng cơ sở thuế.
Cùng đó, ông Sơn đồng tình việc mở diện không chịu thuế giá trị gia tăng cho hộ, cá nhân kinh doanh dưới ngưỡng doanh thu là phù hợp. Tuy nhiên, đại biểu lưu ý việc này có thể làm sai lệch tính cạnh tranh, không khuyến khích các hộ phát triển lên doanh nghiệp, tạo nguồn thu tốt hơn.
Bởi khi đã là doanh nghiệp thì phải kê khai, khấu trừ, hóa đơn, sổ sách chặt chẽ hơn, còn nếu duy trì là hộ dưới ngưỡng thì vừa không chịu thuế giá trị gia tăng vừa giảm áp lực tuân thủ.
"Chính sách này hỗ trợ hộ nhỏ hay đang vô tình tạo vùng an toàn để người kinh doanh không muốn chuyển sang mô hình doanh nghiệp.
Nếu tiếp tục nới bằng luật thuế mà thiếu hàng rào kỹ thuật thì rất dễ tạo ra lợi thế bất cân xứng giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, trong khi khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 96% số doanh nghiệp và đóng góp trên 50% GDP, tức là chính khu vực được kỳ vọng dẫn dắt tăng trưởng lại có thể bị cạnh tranh bất lợi" - ông Sơn nói.
Cùng với đó, đại biểu Trần Anh Tuấn (TP.HCM) bày tỏ ủng hộ phân cấp cho Chính phủ trong sửa đổi luật thuế nhưng đề nghị cần phải đánh giá tác động rõ ràng.
Trong đó, Chính phủ cần xác định ngưỡng và minh bạch, theo nguyên tắc thực hiện chính sách tài khóa mở rộng. Tức là xác định ngưỡng và mỗi năm điều chỉnh theo mức độ tăng thêm hằng năm, căn cứ tình hình thực tiễn và mức độ lạm phát, tương ứng với mức thu nhập và độ mở, thay vì quy định cứng ngưỡng này.
Cần sử dụng tài chính hiệu quả trong giai đoạn tới
Cũng trong ngày 21-4, Quốc hội thảo luận về kế hoạch tài chính năm năm quốc gia giai đoạn 2026-2030; kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030.
Đại biểu Trần Hoàng Ngân (TP.HCM) cho rằng để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, Việt Nam phải phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng trên 10% và GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD.
Vì thế ông Ngân đề nghị Chính phủ đặc biệt lưu ý bốn nguyên tắc quan trọng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu, đó là tăng trưởng phải thực chất; tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đầu tư phải hướng tới nâng cao chất lượng sống và hạnh phúc của nhân dân.
Đồng thời cần rút kinh nghiệm sâu sắc từ giai đoạn 2007-2011, khi đầu tư dàn trải, tăng trưởng nóng, tín dụng cao và bội chi ngân sách lớn đã dẫn đến hệ quả tăng trưởng thấp, mất cân đối vĩ mô.
Theo ông Ngân, việc thực hiện kế hoạch tài chính năm năm giai đoạn 2026-2030 và kế hoạch đầu tư công trung hạn là một thách thức rất lớn. Về kế hoạch tài chính, cả thu ngân sách và chi ngân sách đều tăng cao. Đặc biệt bội chi ngân sách dự kiến quay trở lại mức trên 5% GDP, Chính phủ cần kiểm soát chặt chẽ, không để bội chi vượt quá 4% GDP.
Nhấn mạnh vấn đề các dự án ODA, đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng trọng điểm, đại biểu Nguyễn Trúc Sơn (Vĩnh Long) cho biết giai đoạn 2026-2030, nhu cầu huy động vốn vay nước ngoài dự kiến tăng gấp 7-9 lần so với trước.
Đây là yêu cầu phù hợp trong bối cảnh đất nước cần thêm nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, ông Sơn đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành tiếp tục rà soát, hài hòa hơn nữa các thủ tục đầu tư giữa phía trong nước và nhà tài trợ, tránh tình trạng một dự án nhưng tồn tại hai quy trình đầu tư, hai thủ tục giải ngân khác nhau, tỉ lệ giải ngân thấp, gây kéo dài thời gian triển khai.
Đồng quan điểm, đại biểu Trần Anh Tuấn (TP.HCM) cho rằng trong giai đoạn 2026-2030 nhu cầu vay nợ tăng khá lớn, vì vậy việc xây dựng kế hoạch vay nợ cần phải phù hợp chặt chẽ với tiến độ triển khai thực hiện các dự án.
Mặc dù dự thảo đã trình bày khá rõ song việc sử dụng các nguồn vay để bù đắp thiếu hụt vốn đầu tư cho các dự án quan trọng quốc gia phải gắn liền với kế hoạch triển khai cụ thể của từng dự án. Điều này nhằm bảo đảm nguồn vốn vay thực sự được đưa vào đúng địa chỉ, phát huy hiệu quả trong việc bổ sung nguồn lực, hỗ trợ triển khai các công trình trọng điểm, tránh dàn trải và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.
Ở góc độ khác, đại biểu Phạm Thúy Chinh (Hải Phòng) cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy "giải ngân cao" sang "hiệu quả cao". Do đó, bà Chinh kiến nghị áp dụng cơ chế giải ngân theo kết quả đầu ra; thiết lập nguyên tắc không đạt mục tiêu giai đoạn trước sẽ không bố trí vốn cho giai đoạn sau.
Song song đó công khai tỉ lệ giải ngân và hiệu quả đầu tư để tránh đầu tư dàn trải. Đồng thời, việc đánh giá dự án đầu tư công phải bắt buộc theo các chỉ tiêu tài chính như tỉ suất hoàn vốn, điểm hòa vốn, hiệu quả kinh tế - xã hội, tránh tình trạng triển khai dự án lớn nhưng không lượng hóa được hiệu quả.
Đối với các địa phương, đặc biệt là các đô thị lớn đang thực hiện cơ chế chính sách đặc thù như Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, đại biểu đề nghị cho phép vận dụng linh hoạt các công cụ tài chính như mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD), trái phiếu chính quyền địa phương… nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực tại chỗ và thúc đẩy phát triển bền vững.









